Bài đăng phổ biến

Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn (của bạn bè). Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn (của bạn bè). Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2012

CHUYỆN KỂ TRONG ĐÊM

Chuyện kể trong đêm
                        Truyện ngắn của Đặng Văn Sinh

Sắp đến chương trình phim truyện, theo thông lệ, Đài truyền hình Việt Nam phát mấy phút quảng cáo. Thằng cháu nội bảy tuổi đang ấm ức vì mục này kéo quá dài, sốt ruột, thì bất ngờ tôi đọc được mấy dòng tin buồn: "Gia đình vô cùng đau đớn báo tin, mẹ chúng tôi là bà Phạm Thị Xuyến, sinh năm 1932, quê quán tại xã... huyện... tỉnh Thái Bình, do mắc bệnh hiểm nghèo đã từ trần...".
Tôi lặng người, bỏ tập phim về phòng riêng. Thế là chị ấy đã ra đi. Vẫn biết cái chết đối với con người là quy luật muôn đời vậy mà lòng tôi cứ nặng trĩu nỗi buồn vẩn vơ. Đêm ấy, tôi nằm trằn trọc mãi không ngủ được làm bà vợ  bực mình. Vợ tôi, dân thành phố, rất ngại về quê. Từ khi cưới nhau đến giờ, số lần bà ấy về thăm nhà chỉ đếm trên đầu ngón tay. Về làng, bà ấy chớp nhoáng đảo nhoàng thăm đôi ba chỗ thật cần thiết rồi biến nhanh, cứ như là họ hàng nhà chồng có bệnh truyền nhiễm, ở lại chậm chút nữa là bị thứ virus nhà quê đột nhập vào cơ thể, gậm nhấm dần cái mùi đô thị cao quý của mình.  Nhưng đấy mới chỉ là một mặt của vấn đề. Điều tôi sợ nhất là máu Hoạn Thư cho dù cả hai đều đã ở tuổi lục tuần. Mỗi lúc cơn đồng bóng của bà Ngần nổi lên thì trời cũng bé. Ba mươi tám năm sống với nhau, tôi luôn bị quản chặt theo đúng nghĩa đen của từ này. Những mưu toan tình tang trăng gió trên khắp các nẻo đường công tác ở ngành giao thông của tôi đều bị cấm chỉ. Mà có muốn  cũng không được. Chỉ cần nghe phong thanh là bà ấy lồng đến tận nơi, dù tôi có ở chân trời góc bể cũng chẳng thể thoát được cái thiên la địa võng giăng mắc khắp nơi, tuy vô hình nhưng lại tỏ ra vô cùng hiệu quả.

Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2012

CÁI VÒI : truyện ngắn của Đặng Văn Sinh

                                                    Cái vòi
                                   Truyện ngắn của Đặng Văn Sinh

Ngọc Hoàng ngự ở tầng trời thứ chín, xung quanh có mây ngũ sắc bao phủ. Khí hậu thiên cung trong lành, cả năm lúc nào cũng là mùa xuân dịu dàng, trăm hoa đua nở. Còn độ dài thời gian lại tuỳ ở mỗi vị thần. Nó vừa là khoảnh khắc vừa là vô tận để cho ngay cả người trần tục có diễm phúc được sống ở đấy cũng trẻ mãi không già. Thượng Đế là chúa tể của các thần cũng như con người nên chỉ ngài mới có quyền năng sáng tạo ra muôn loài trên Thiên Giới cũng như trong Cõi Nhân Gian.
Tuy là bậc siêu thánh, toàn thiện toàn năng, Ngọc Hoàng cũng có những kẻ ghen ghét, đố kỵ. Một trong những kẻ như thế là Mộc Giác Tiên, vị bán thần chuyên làm việc vô công rồi nghề là thổi bùng ý tưởng vụn vặt của chúng sinh dưới hạ giới thành những đam  mê kỳ quặc.

Thứ Bảy, 28 tháng 1, 2012

BÍ MẬT CỦA NHÀ NGOẠI CẢM


                                                  Bí Mật Của Nhà “Ngoại Cảm”
Vụ cháy ngôi biệt thự Hồng Dương vào ngày Mùng Một Tết không chỉ làm chấn động Thành phố Đà-lạt mà còn gây xôn xao cả nước. Ngay sau khi hỏa hoạn xảy ra, các cơ quan an ninh và thông tin văn hoá đã nhanh chóng làm nhiệm vụ, ngăn chặn việc phổ biến tin này, nhưng chỉ ngày hôm sau, trong hệ thống đảng, từ trung ương tới các cấp bộ địa phương, mọi người đều hay biết với những tin tức khá đầy đủ.
Ngôi nhà hai mươi phòng của Tướng Vũ Sơn đã bốc lửa vào lúc nửa đêm Mùng Một Tết, cháy cho đến chiều hôm sau, khói vẫn còn âm ỉ bốc lên từ những gì còn lại. Sở Phòng Cháy Chữa Cháy thành phố đã huy động tất cả phương tiện cơ hữu để cố đàn áp ngọn lửa nhưng chính họ đã bị ngọn lửa đẩy lui để bảo vệ khu rừng thông bên ngoài và các ngôi nhà chung quanh khỏi bị cháy lan.
Thiệt hại vật chất rất to lớn, chưa thể biết chính xác. Bốn năm trước, Thượng Tướng Vũ Sơn đã cho khởi công xậy dựng ngôi biệt thự này trên một đồi thông nhìn xuống Hồ Tuyền Lâm thơ mộng. Việc xây cất đã kéo dài hai năm mới hoàn tất với những vật liệu hiếm quý đắt tiền, với những tiện nghi xa hoa hiện đại. Các phòng ốc được trang trí với những báu vật mà Biệt điện của Vua Bảo Đại trước đây cũng chưa có. Tất cả nay đã thành tro than.
Nhưng thiệt hại nhân mạng cũng rất hãi hùng. Sau cơn tung hoành của lửa khói, khi các nhân viên chữa cháy đầu tiên vào được bên trong, họ đã chứng kiến một cảnh tượng giống như nơi đây vừa là mục tiêu của một trận pháo kích. Quá nhiều xác chết. Xác chết rải rác khắp nơi, nhưng nhiều nhất là tại căn phòng lớn được gọi là “hội trường”, nơi tổ chức những cuộc liên hoan, ca vũ.
Khi hoả hoạn xảy ra, căn phòng này có khoảng năm mươi người đang tham dự tiệc liên hoan đầu năm. Vợ chồng Tướng Vũ Sơn và người con trai, tổng giám đốc một công ty vận chuyển, cũng nằm trong số nạn nhân. Những nạn nhân khác đều là những người có quyền thế và có nhiều triệu đô-la mà ngôn ngữ thời thượng gọi là các “đại gia”, không những chỉ ở Đà-lạt mà còn từ Hà-nội và Sài-gòn lên đây ăn Tết do lời mời của gia chủ.

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2011

TRUYỆN NGẮN CỦA ĐẶNG VĂN SINH

Người thả ống lươn
                                                     Truyện ngắn của Đặng Văn Sinh
Trịnh Doãng cùng họ với tôi. Hắn ở ngành dưới. Xét về thứ bậc, Doãng phải gọi tôi bằng ông cho dù hắn hơn tôi cả một giáp. Tôi là dân thợ mộc, quanh năm xách cưa đục đi kiếm ăn thiên hạ, thỉnh thoảng mới về làng, mỗi lần về lại được nghe một chuyện về Doãng, thật có mà người ta thêu dệt thành giai thoại cũng có, cứ rối tung rối mù chẳng biết đâu mà lần. Thời gian hầu như không mấy tác động mấy đến tính cách của Doãng. Con người hắn vẫn như mấy chục năm trước, chỉ có khuôn mặt là nhàu đi, kéo những vết sần lỗ chỗ, hậu quả của trận đậu mùa, giãn ra, trông lại có vẻ dễ coi hơn trước.


Trong ba người con của ông Cả Duệch thì Doạng và Doan thuộc loại làm ăn cơ chỉ, tính hạnh hiền lương, chỉ riêng Doãng, anh thứ hai là trái tính trái nết. Doãng tuổi Ất Hợi, năm lên bảy bị bệnh đậu mùa, toàn thân phủ dày một lớp mụn to bằng hạt đậu, mọng nước như phỏng dạ. Những mụn ấy vỡ, nước vàng chảy ra bốc mùi khăn khẳn không chịu được. Người Doãng quắt như con mèo hen, miệng  hớp hớp không khí chẳng khác gì con cá mắc cạn, thở khò khè. Ông lang Ích thăm bệnh xong, lắc đầu :
- Tôi chịu, ông bà sắp chiếu, chẻ lạt đi là vừa...
Ông Duệch thương con không nỡ. Thôi thì còn nước còn tát. Nghĩ vậy, ông bảo Doạng chạy ra xóm Bãi gọi bà Phó Lễ vào xem có cứu được không. Bà Phó Lễ là lang vườn kiêm nghề cô đồng. Thuốc của bà toàn nước thải với bùa chú thêm ít rễ cây trộn lẫn cho con bệnh uống. Vậy mà đến chập tối Trịnh Doãng tỉnh lại. Lúc ra về bà Phó dặn:
- Mệnh thằng bé này lớn lắm. Nó vốn là tướng Nhà Giời bị Ngọc Hoàng đày xuống trần gian hầu hạ "Chúa Bà" nên không thể "đi" được.

Thứ Bảy, 12 tháng 11, 2011

CHIỀU MUỘN

                                               Chiều muộn
                          (Rút trong tập Kẻ chiếm dụng thời gian của thượng đế)
                                                              Truyện ngắn của Đặng Văn Sinh
                                                                              
Từ mấy chục năm trước, tuy là vùng hẻo lánh, góc thành phố này đã hội đủ các điều kiện thuận lợi cho một khu buôn bán sầm uất : bến xe, ga tàu, chợ và một con sông nhỏ có cây cầu bê tông nối hai bờ. Chính vì thế, vừa chớm bước vào thời kinh tế thị trường, con người như chợt  bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài. Thị dân đủ loại xoay như chong chóng với các thương vụ lỗ lãi, ít ai để ý đến một người đàn bà điên chẳng biết từ đâu mới đến chợ được dăm tháng. Cũng  không ai hỏi rõ tên tuổi, quê quán, chỉ áng chừng chị ta chưa đến ba  mươi, có khuôn mặt dễ ưa, da trắng, tóc dài, phải cái bàn tay bàn chân thô tháp, gân guốc như đàn ông. Dân chợ gọi là Con Điên. Con Điên ban ngày đi lang thang. Tối, tá túc ở một chiếc lều nào đó trong chợ. Gã quét chợ nhiều lần đuổi, có lúc đã phải dùng đến gậy. Con Điên túm đầu gậy trừng mắt ( đôi mắt bồ câu rất đẹp) bảo :
- Đừng cậy thế đàn ông bắt chẹt kẻ yếu nhá ! Đây mà thỉnh Quan Âm Bồ Tát thì cả nhà anh phải sa xuống chín tầng địa ngục.
Buổi chiều, khi chợ đã vãn người, Con Điên tha thẩn lượm lá bánh, nhặt những hạt gạo còn sót lại, vừa ăn vừa nghêu ngao một bài hát cổ mà giọng điệu nghe buồn nẫu ruột:
Ly khách…chén rượu đắng nước mắt
Trăm năm, cuộc bể dâu, hồn phiêu diêu…

                                                                 

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2011

KẺ CHIẾM DỤNG THỜI GIAN CỦA THƯỢNG ĐẾ


Bến Phù Dung
                                                                Truyện ngắn Đặng Văn Sinh
                             (Rút trong tập: Kẻ chiếm dụng thời gian của Thượng Đế)

Được tin ông Quỳnh ốm nặng tôi vội thu xếp công việc về thăm. Nghề của tôi là lái ca nô lai dắt xà lan, chỉ những dịp nghỉ phép hoặc tết nhất mới được ở nhà lâu, còn quanh năm rong ruổi trên khắp các dòng sông, đêm ngày làm bạn cùng mây trời sóng nước. Ông Quỳnh với nhà tôi thật ra chẳng dây mơ rễ má gì nhưng lại có ơn cứu tử. Cái ơn ấy đối với tôi, dù chết cũng không thể báo đáp được. Chuyện xẩy ra khi tôi mới mười một tuổi, hàng ngày thường cùng đám bạn choai choai, cởi truồng, quấn quần đùi lên đầu, cưỡi trâu bơi qua sông sang cồn Láng thả. Dạo ấy đã cuối mùa mưa nhưng nước sông vẫn còn đục ngầu, vỗ oàm oạp vào bờ. Chúng tôi bất chấp những lời răn dạy của người lớn, cứ cho trâu ra bến. Lũ trâu, hàng tháng trời bị buộc trong chuồng, toàn nhai rơm khô, xót ruột, nhìn thấy vạt cỏ xanh bên kia sông,mắt sáng lên, vươn cổ kêu ọ ọ đầy vẻ phấn khích rồi thủng thẳng bước xuống nước. Chưa đầy một khắc, đàn trâu lần lượt tấp lên bờ cát, riêng con Nghênh của nhà tôi, chẳng hiểu làm sao cứ trôi xuôi dòng, hết nhô lên nhô lên lại ngup xuống như là sắp chìm đến nơi. Hoảng quá, tôi kêu toáng lên nhưng có lẽ chẳng ai nghe thấy. Tôi thoáng nghĩ đến thằng Vọt chết đuối năm ngoái ở cống Ba Kèo. Phen này thì hết đời rồi. Vừa nghĩ được đến đấy nước đã xộc vào miệng. Tôi chới với quờ quạng chân tay nhưng không còn chỗ nào bấu víu. Con trâu có lẽ dã bị vực xoáy cuốn đi...
                                                                             
Đến gần tối, tỉnh lại, tôi mới biết mình được cứu sống. Người cứu tôi chính là ông Quỳnh, lúc ấy đang thả lưới trên sông. Ông kể lại, khi thấy đứa trẻ nhấp nhô gần vực Hà Bá, ông vội buông tay lưới, nhảy ào xuống nước nhưng cũng phải mất khá nhiều thời gian mới túm được chân rồi dìu vào bờ cá phía cồn Láng.
Vậy mà đã hai mươi sáu năm.Thời gian đúng là một cỗ máy vô tình, dửng dưng huỷ hoại con người. Vừa nhìn thấy tôi, Ông Quỳnh, giờ đã là một cụ già hom hem, gương mặt hốc hác cố nứt ra nụ cười nhăn nhúm :
- Mệnh của tôi sắp hết nhưng chưa chết ngay được. Trước khi về với tổ tiên, tôi muốn cậu cho xuống thuyền xuôi về bến Phù Dung thăm lại dòng sông.
Tát nhiên là phải chiều theo ý ông già. Tôi mượn được chiếc thuyền gỗ có mui, mang theo ít đồ ăn, và thế là hai bác cháu trở thành những kẻ lãng du trên dòng sông Lăng theo một hành trình hoàn toàn tuỳ hứng. Lúc này đã là cuối tháng chín ta mà thời tiết khá thất thường. Dòng sông đang nhập nhoà trong màn mưa bụi giăng giăng bỗng như loé lên thứ màu ngọc lục khi ánh mặt trời vàng óng xuyên qua lớp mây trắng nõn đang lởn vởn trên chóp cao nhất của dãy Yên Tử xa mờ. Thuyền đi được một quãng khá xa. Ông Quỳnh ngồi ngay cửa khoang, lưng dựa vào cái chăn cuộn lại, mắt đăm ăm nhìn dòng sông. Tôi gần như để mặc con thuyền xuôi dòng, chỉ thỉnh thoảng khoáy nhẹ mái chèo cho nó trôi đúng hướng, còn phần lớn thời gian là ngắm trời ngắm đất, nhất là những vạt ngô non trên bãi sa bồi đang lao xao trong những đợt heo may đầu mùa. Một cặp cò trắng từ bên kia cồn Láng, thả dần độ cao, nhịp nhàng vỗ cánh lướt trên mặt sông như là muốn soi gương trang điểm trước khi đáp xuống cánh bãi bên đầm Vực.

Thứ Ba, 18 tháng 10, 2011

KẺ CHIẾM DỤNG THỜI GIAN CỦA THƯỢNG ĐẾ

Kẻ chiếm dụng thời gian của Thượng đế
                                                            Truyện ngắn của Đặng Văn Sinh
                       (Trích trong tập truyện ngắn cùng tên do NXB Dân Trí ấn hành tháng 8 năm 2011)

                                                                                 
            Thời nhà Hạ, ở vùng thượng lưu sông Hàn có một nước tên là Kỳ Văn. Kỳ Văn là tiểu quốc chưa đầy chục vạn dân nhưng lắm bậc hiền tài. Một trong những người như thế là pháp sư Vệ Tử. Ông trước đã từng tu trong núi Chung Nam ba mươi năm liền không ra đến ngoài. Sau khi đắc đạo, Vệ Tử hành cước đến phương Nam, làm cái am nhỏ trên núi Bạch Điểu, học trò tìm về thụ giáo có đến hàng nghìn. Thuở ấy, cai  trị vương quốc là một ông vua ngu tối, không những ham mê tửu sắc, sủng ái bọn nịnh thần mà còn hay gây chiến tranh với các nước láng giềng để mở rộng bờ cõi. Thượng đế và các thần trên trời đều biết cả nhưng do hàng tháng, vào những ngày sóc vọng, nhà vua đều làm lễ hiến tế những sơn hào hải vị cùng đồ châu báu, gấm vóc quý giá nên các vị không nỡ xuống tay trừng phạt.
Chính sách thuế khoá và pháp luật của quốc vương Kỳ Văn rất hà khắc. Các cuộc chinh phạt diễn ra liên miên làm cho cuộc sống lương dân vô cùng khốn đốn. Khắp nơi, đâu đâu cũng thấy cảnh những đám người ăn xin thất thểu như bóng ma vật vờ trên đường quan. Ở gần kinh đô, cách cổng thành chưa đầy năm dặm mà thôn xóm tiêu điều, ruộng đồng xơ xác. Lòng oán hận của trăm họ đối với triều đình đã chất cao tày núi. Một hôm có người đàn bà dáng vẻ tiều tụy đến trước am khóc mà nói với Vệ Tử rằng :
- Thưa pháp sư, pháp sư là bậc chí nhân, đạo của ngài có thể cảm hoá được quỷ thần, vậy ngài hãy xin với nhà vua cho chồng thiếp sống thêm mấy giờ để anh ấy vĩnh biệt mẹ già trước khi bị hành quyết.
Người đàn bà quê ở Nam Khẩu, chồng là  một nông phu. Anh ta có mẹ già ốm nặng sắp chết nên đánh liều trốn lính về chăm sóc cho tròn đạo hiếu. Lính cấm vệ biết, đến bắt giam vào ngục đá. Chỉ nội trong ngày hôm ấy là bị xử trảm. Nghe chuyện, vị pháp sư không đành lòng. Ông vội vã cùng hai học trò vào Kinh ra mắt quốc vương những mong cứu được mạng sống chàng chiến binh. Nhưng cuộc hạ sơn của Vệ Tử thực uổng. Gã bạo chúa không những không tiếp mà còn sai thị vệ nói với ông những lời xúc phạm :
- Ông cứ về núi mà tu, đừng chõ mũi vào việc đại sự quốc gia nếu không muốn rơi đầu.
Vị pháp sư nén giận trở về và thề từ nay không bao giờ bước chân đến Kinh thành khi tên vua tàn bạo kia còn ngồi trên ngai vàng.
Trở về, pháp sư đóng cửa am ngồi nhập định suy nghĩ về lẽ biến dịch của trời đất. Cái chết oan ức của người lính đào nhiệm do quốc vương Kỳ Văn gây ra làm ông nhiều đêm không ngủ được. Giá như có cách nào kéo dài thời khắc ra hoặc rút ngắn nó lại, thì dù không cứu được tính mạng anh ta, chí ít cũng làm cho bà mẹ già khốn khổ kia khỏi chết hai lần. Phải, cả đạo và trí của ông giờ đây đã đạt đến mức huyền diệu, tai sao lại khong dùng trí để làm một cái gì đó có ích cho sinh dân ?

Thứ Năm, 18 tháng 8, 2011

ĐÒ ĐÊM - Truyện ngắn của Đặng Văn Sinh

 Đò đêm
                                            Truyện ngắn của Đặng Văn Sinh
           
Bến đò càng về chiều càng đông khách. Những chiếc thuyền buồm đủ loại chen chúc nhau trên đoạn sông chưa đầy trăm thước. Tháng chín, không còn những trận mưa ngàn trắng trời. Heo may về. Sóng lấp loá nắng xiên khoai. Lần theo từng bậc đá, anh xuống mép nước.
Ở đâu đó bên kia bờ vọng tiếng sáo diều. Những âm thanh xa tít tắp lơ lửng  trên cao ấy ngân mãi một giọng trầm đơn điệu khiến tâm trạng anh trở nên nặng nề. Bị tiếng sáo ám ảnh, chỉ chút xíu nữa anh không kịp xuống đò dù rằng đấy là chuyến cuối cùng chở khách trẩy hội đền Chúa Liễu bắt đầu vào sáng sớm ngày mai. Con thuyền cắt chéo dòng nước, lắc lư trườn ra giữa sông. Người lái đò kéo cánh buồm trắng, nó sẽ chao đi rồi hướng mũi về phía bắc. Khi hoàng hôn đổ xuống cũng là lúc thuyền qua khỏi bến Tuần lầm lũi gối sóng ngược về bến Tràng. Ngồi mũi thuyền, anh có cảm giác như đang đi về phia mặt trời lặn. Hoàng hôn gay gắt nhuộm đỏ cánh buồm. Mặt sông Hoàng Giang vốn đã rộng, dưới ánh chiều, bị ảo giác kéo giãn ra, tưởng như mênh mang vô tận. Anh thích thú ngắm nhìn vầng mặt trời đỏ quạch và quan sát những biến thái của nó cho đến khi nó nhợt nhạt, mất hết sinh khí và đột ngột chìm xuống sau triền đê sừng sững như bức trường thành. Trong đời, chưa bao giờ anh được thong thả ngắm hoàng hôn trên sông. Dòng nước thao thiết chảy. Tiếng sóng rào rào vỗ mạn thuyền. Mặt sông chấp chới những cánh chim nhạn nước. Những thứ vừa lạ vừa quen đó tạo thành một mảng không gian riêng biệt thật êm ả, thanh bình. Lần đầu đi đò trên sông lạ mà anh có cảm giác đã quen lắm, thân thuộc lắm, cứ như suốt cả tuổi thơ vất vả, nhọc nhằn đã từng gắn bó với nó. Một ký ức tiền kiếp chăng ? Hay chỉ là sự liên tưởng thái quá trong tiềm thức đầy những ám ảnh ? Điều đó không quan trọng. Với anh, lúc này con sông đang là một dải mờ ảo, mênh mang, và chỉ chốc nữa thôi, khi màn đêm buông xuống sẽ trở thành một thực thể huyền bí. Biết đâu, trong cái chuỗi liên hệ ngược đầy mâu thuẫn ấy sẽ nảy sinh một ý tưởng.


Thứ Hai, 11 tháng 7, 2011

MẸ ĐIÊN (Truyện ngắn Trung Quốc)

Mẹ điên

                                                           Nhà văn Vương Hằng Tích

            Hai mươi ba năm trước, có một người con gái trẻ lang thang qua làng tôi, đầu bù tóc rối, gặp ai cũng cười cười, cũng chả ngại ngần ngồi tè trước mặt mọi người. Vì vậy, đàn bà trong làng đi qua cô gái thường nhổ nước bọt, có bà còn chạy lên trước dậm chân, đuổi "Cút cho xa!". Thế nhưng cô gái không bỏ đi, vẫn cứ cười ngây dại quanh quẩn trong làng.
Hồi đó, cha tôi đã 35 tuổi. Cha làm việc ở bãi khai thác đá bị máy chém cụt tay trái, nhà lại quá nghèo, mãi không cưới được vợ. Bà nội thấy con điên có sắc vóc, thì động lòng, quyết định mang cô ta về nhà cho cha tôi, làm vợ, chờ bao giờ cô ta đẻ cho nhà tôi "đứa nối dõi" sẽ đuổi đi liền. Cha tôi dù trong lòng bất nhẫn, nhưng nhìn cảnh nhà, cắn răng đành chấp nhận. Thế là kết quả, cha tôi không phải mất đồng xu nào, nghiễm nhiên thành chú rể.
Khi mẹ sinh tôi, bà nội ẵm cháu, hóp cái miệng chẳng còn mấy cái răng vui sướng nói: "Cái con mẹ điên này, mà lại sinh cho bà cái đứa chống gậy rồi!". Có điều sinh tôi ra, bà nội ẵm mất tôi, không bao giờ cho mẹ đến gần con.

Thứ Hai, 4 tháng 7, 2011

ĐIẾU VĂN CỦA NGƯỜI QUÉT CHỢ

Điếu văn của người quét chợ

       Nhà văn  Đặng Văn Sinh

Lúc này người ta đang làm thủ tục nhập quan. Người quá cố được bọc trong lần vải xô, lòng khòng như chiếc lá héo bị vặn theo chiều dọc, trông có vẻ dài hơn lúc còn sống. Lão thầy cúng nửa mùa, một tay bắt quyết, miệng lẩm nhẩm đọc thần chú, một tay cầm con dao chém lung tung bốn phương tám hướng. Sau một hồi nhảy thách lên như con choi choi, lão băm bảy nhát dao vào phía trong quan tài trừ quỷ nhập tràng rồi khoát tay ra hiệu cho hai ông già đưa người chết vào cỗ ván gỗ tạp bọc giấy đỏ.
Phải nói, không có gì thê thảm, não nề bằng tiếng kèn đám ma. Khi mà những hợp âm năm cung của điệu Lâm khốc được nâng đỡ bởi tiếng nhị réo rắt, hoà với chuỗi âm thanh đơn độc của cây đàn bầu vuốt dài đến vô tận, nghẹn ngào như nấc lên từng nhịp, thì đến người ngoài cuộc cũng rơi nước mắt. Người thổi kèn là một thợ chuyên nghiệp có hạng. Khi thổi, mái đầu bạc của ông rung rung, đôi lúc đảo qua đảo lại như các bà đồng đội bát nhang. Cùng với tiếng kèn là dàn đồng ca nức nở với đủ các cung bậc của đám con cháu nội ngoại. Ông có sáu con, bốn trai, hai gái. Cái gia đình đông đúc ấy, đã lâu lắm rồi, hôm nay mớ có dịp gặp mặt đông đủ.

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2011

VỊ PHỒN THỰC


Vị phồn thực
Truyện ngắn của Vũ Ngọc Tiến
                                              
                                                        
 1- Tôi tỉnh dậy sau một đêm dài mộng mị. Hắn và cả cái phòng tranh quái đản, trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật cứ ám ảnh tôi suốt đêm, không sao chợp mắt được, đầu óc rối tinh, bộn bề những kỷ niệm về tình bạn giữa tôi với hắn một thời lửa máu. Ngần ấy năm bầu bạn thân thiết, tôi chỉ biết hắn đã từng làm thơ, viết văn, rồi vì thứ của nợ ấy hắn dính đòn, bị đẩy ra mặt trận, thành lính trinh sát pháo binh, cùng tiểu đội với tôi ở chiến trường khu Năm ác liệt. Đành rằng hắn có chút hoa tay, vẽ sơ đồ các cứ điểm của địch chuẩn xác và sinh động đến kỳ lạ, nhưng để làm họa sĩ lại là chuyện khác. Thơ hắn tứ lạ, lời đẹp mà hắn lại gác bút mấy chục năm, rồi chuyển sang nghề vẽ, làm tôi ngỡ ngàng…
2- Chẳng biết hắn học quy luật về ánh sáng, hình sắc, đường nét ở đâu, từ bao giờ mà phòng tranh vừa mở đã gây ồn ào dư luận, khen chê các kiểu. Mới tập tọng vào nghề, hắn đã nhảy ngay vào lĩnh vực tranh tiêu đề khổ lớn, mỗi bức to bằng lá chiếu đại. Đã là tranh tiêu đề thì đằng sau bố cục và những gam màu còn ẩn chứa nội hàm tư tưởng triết mỹ của tác giả, chứ đâu có bỡn. Vậy mà trong hết thảy các bức vẽ, hắn đều đặt tâm điểm triết mỹ vào hình tượng người đàn bà khỏa thân, ngồn ngộn những V và L!

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2011

CÂY MÍT TỐ NỮ

                                                
                                   Cây mít tố nữ
                       Truyện ngắn của  Đặng Văn Sinh .                      
                                                           
                                                                      
Làng Yên Ninh thuộc tổng Cao Sơn, phủ Trường Lưu nằm dọc phía hữu ngạn sông Cái. Ðứng trên cao trông như mũi mác hơi phình ở giữa mà vuốt nhọn hai đầu. Ngày trước, nghe đâu từ thời Hồng Ðức, có quan Tư nghiệp Quốc tử giám, người tổng Phù Vân về quê, qua đò nhìn thấy thế đất làng Yên, bảo với anh học trò cùng đi :”Làng này được thế đất tốt nhưng tiếc rằng mạch bị chẻ làm hai nên đuối sức, hiếm nhân tài”. Lời tiên tri của quan Tư nghiệp tỏ ra ứng nghiệm. Hết đời này đến đời khác, dân làng Yên chỉ làm ruộng. Vụ nông nhàn, đàn ông thêm nghề quăng chài, đàn bà chuyên nhặt phân chó đem sang chợ Buộm bán. Những đời sau, các bậc kỳ mục trong làng thấy dân thất học thì lép vế với thiên hạ mới bàn nhau mở trường, đón thầy về dạy chữ thánh hiền cho con cháu những nhà khá giả. Ðược mười chín năm thì có người đỗ hương cống rốt bảng. Ðó là con trai nhà phú hộ họ Trần tên là Trần Phong. Tháng chín năm giáp thân, niên hiệu Cảnh Hưng, nhà họ Trần làm khao mời cả làng. Người hàng tổng đến dự cũng đông. Quà mừng chất đầy hai chiếc sập gụ kê ở chính sảnh. Gia chủ tay bắt mặt mừng kính cẩn đón khách. Dịp ấy đã vào tháng trọng thu. Heo may rải đồng. Tiết trời mát mẻ. Mùi hoa địa lan thoang thoảng như ngấm vào men rượu. Bà con xa gần ai nhấp chén cũng thấy ngọt. Tiệc đang vui ,có người vào báo quan Nghè Lương Xá đến mừng. Cả nhà rối lên. Cụ cố, thân sinh ông Cống tân khoa đích thân ra cổng rước khách. Ông nghè Phạm xuống ngựa, sửa lại quần áo ngay ngắn rồi lễ phép cúi chào:
-Thưa cụ cố, nghe tin anh cống Trần vừa đăng khoa, chúng tôi xin có lời mừng.
Cụ cố sợ thất lễ, cúi rạp xuống tạ lỗi :
- Chúng tôi ở xa, không biết quan Nghè mới từ Kinh trở về, xin ngài xá cho.